Khảo sát các thông số khớp chè đùi ở người Việt Nam trưởng thành trên cắt lớp vi tính
Nguyễn Đại Hùng Linh; Phạm Thảo Ái; Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn (2026). Khảo sát các thông số khớp chè đùi ở người Việt Nam trưởng thành trên cắt lớp vi tính. Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam), 559(2). https://sti.vista.gov.vn/publication/view/khao-sat-cac-thong-so-khop-che-dui-o-nguoi-viet-nam-truong-thanh-tren-cat-lop-vi-tinh-a5b5abd0f1f9d7a9b03430b294a6c448-482038.html
Tóm tắt
Khảo sát các thông số khớp chè đùi ở người Việt Nam theo giới và tuổi. Đối tượng và phương pháp: 64 đối tượng được chỉ định chụp cắt lớp vi tính qua khớp gối có hoặc không tiêm thuốc tương phản, đo các thông số kích thước khớp chè đùi. Kết quả và Kết luận: Các giá trị trung bình (± độ lệch chuẩn) của 5 chỉ số hình thái khớp chè-đùi: Góc rãnh ròng rọc (SA): 132,81 ± 4,66°, góc nghiêng bánh chè (PTA): 11,12 ± 1,52°, khoảng cách lồi củ chày - rãnh ròng rọc (TT-TG): 12,34 ± 0,90 mm, độ sâu rãnh ròng rọc (TGD): 5,93 ± 0,62 mm, độ bất đối xứng mặt ròng rọc (TFA): 59,44 ± 5,78%. Ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới ở 3/5 chỉ số. Nữ giới có độ sâu rãnh ròng rọc (TGD) lớn hơn nam giới ở cả hai bên và độ bất đối xứng mặt ròng rọc (TFA) cao hơn ở gối phải. Ngược lại, nam giới có khoảng cách TT-TG lớn hơn nữ giới ở gối trái. Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi với bất kỳ chỉ số nào trong 5 chỉ số khảo sát. Về mối tương quan giữa các chỉ số: Ghi nhận mối tương quan nghịch, mức độ chặt chẽ giữa góc rãnh ròng rọc (SA) và độ sâu rãnh ròng rọc (TGD). Ghi nhận các mối tương quan thuận, mức độ nhẹ giữa khoảng cách TT-TG với góc nghiêng bánh chè (PTA), giữa TT-TG với độ sâu rãnh ròng rọc (TGD) ,và giữa TGD với độ bất đối xứng mặt ròng rọc (TFA).
Thông tin thư mục
Từ khóa
Khớp chè đùi; Góc nghiêng bánh chè; Góc rãnh ròng rọc; Người Việt trưởng thành; Cắt lớp vi tính