← Trở về danh mục
HỒ SƠ TÀI LIỆU · #29.420
Chỉ metadata Tài liệu khác VI

Đặc điểm, kết cục và yếu tố liên quan của tổn thương thận cấp theo diễn tiến tại khoa Hồi sức Tích cực Bệnh viện Vinmec Central Park

Năm xuất bản2026
Nguồn học thuậtTạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam)
Định danh#29420
TRÍCH DẪN ĐỀ XUẤT

Nguyễn Phi Tùng; Khổng Trọng Thắng; Phan Văn Phong; Hoàng Thị Trà; Lê Thị Huệ; Võ Thị Thu Hồng; Nguyễn Thị Huyên; Nguyễn Thị Kiều Nga; Nguyễn Thị Kim Yến; Nguyễn Thị Thanh Hiền; Phạm Tuyết Trinh; Phan Thị Loan; Hồ Thị Ngọc Mai (2026). Đặc điểm, kết cục và yếu tố liên quan của tổn thương thận cấp theo diễn tiến tại khoa Hồi sức Tích cực Bệnh viện Vinmec Central Park. Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam), 558(3), 96-100. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/dac-diem-ket-cuc-va-yeu-to-lien-quan-cua-ton-thuong-than-cap-theo-dien-tien-tai-khoa-hoi-suc-tich-cuc-benh-vien-vinmec-central-park-9c6e97a38fd9f16c0f6ed9b1a8490885-481051.html

01

Tóm tắt

Tổn thương thận cấp (TTTC) ở bệnh nhân hồi sức tích cực là một tình trạng không đồng nhất; tiên lượng phụ thuộc không chỉ vào mức độ nặng ban đầu mà còn vào diễn tiến theo thời gian. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm (1) mô tả phân bố các quỹ đạo TTTC, (2) so sánh đặc điểm và kết cục giữa các nhóm, và (3) xác định các yếu tố lâm sàng liên quan đến thể TTTC dai dẳng mức độ nặng trong quần thể bệnh nhân hồi sức tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, đơn trung tâm, thực hiện tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Vinmec Central Park từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2025, trên bệnh nhân ≥18 tuổi. TTTC được xác định theo tiêu chuẩn KDIGO 2012 và được phân loại thành bốn quỹ đạo: giai đoạn 1; thoáng qua (hồi phục trong 48 giờ); dai dẳng mức độ nhẹ–trung bình; và dai dẳng mức độ nặng (giai đoạn 3 kéo dài ≥72 giờ, hoặc cần lọc máu, hoặc tử vong sau khi đạt giai đoạn 3). Biến kết cục gồm tử vong nội viện, hồi phục thận khi ra viện, thời gian nằm hồi sức tích cực và nằm viện. Kết quả: Trong số 106 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn, phân bố các quỹ đạo TTTC lần lượt là: giai đoạn 1 (42%), thoáng qua (22%), dai dẳng mức độ nhẹ–trung bình (13%), và dai dẳng mức độ nặng (23%). Tiên lượng càng xấu khi TTTC càng dai dẳng và càng nặng, xấu nhất ở nhóm dai dẳng mức độ nặng (tử vong 54%, hồi phục thận 17%). So với ba nhóm còn lại, TTTC dai dẳng mức độ nặng liên quan đến nguy cơ tử vong trong bệnh viện cao hơn (HR 4,42; KTC 95%: 1,47–13,32; p=0,008). Các yếu tố thường gặp hơn ở nhóm này bao gồm số lượng tiểu cầu thấp, tỉ số bạch cầu đa nhân trung tính/lympho (NLR) và CRP cao, mức độ nặng toàn thân cao hơn (SOFA, APACHE II). Kết luận: Phân loại TTTC theo quỹ đạo có giá trị trong phân tầng nguy cơ; thể dai dẳng mức độ nặng mang tiên lượng xấu và cần được nhận diện và tiên lượng sớm để định hướng dự phòng, can thiệp cũng như nghiên cứu tiếp theo.

02

Thông tin thư mục

03

Từ khóa

Tổn thương thận cấp; Hồi sức tích cực; Tiên lượng; Lâm sàng; Điều trị