Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ ở bệnh nhân đau thần kinh sinh ba không do xung đột thần kinh mạch máu
Nguyễn Thị Tố Quyên; Hồ Hoàng Phương; Nguyễn Thị Thủy Trúc; Lâm Diễm Phương (2026). Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ ở bệnh nhân đau thần kinh sinh ba không do xung đột thần kinh mạch máu. Tạp chí Y học Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam), 558(1), 37-41. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/dac-diem-hinh-anh-cong-huong-tu-o-benh-nhan-dau-than-kinh-sinh-ba-khong-do-xung-dot-than-kinh-mach-mau-31eaa84b38388987096f2ecdd798cabe-479224.html
Tóm tắt
Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của dây thần kinh sinh ba, xương đá và bể góc cầu tiểu não ở bên đau và bên không đau trên bệnh nhân đau thần kinh sinh ba không do xung đột thần kinh mạch máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu hồi cứu trên 119 bệnh nhân đau thần kinh sinh ba không do xung đột thần kinh mạch máu (84 nữ và 35 nam, tuổi trung bình 49,24 ± 15,46). Góc dây thần kinh sinh ba, chiều dài dây thần kinh sinh ba, diện tích dây thần kinh sinh ba, góc giữa dây thần kinh sinh ba và cầu não, góc xương đá, diện tích bể góc cầu tiểu não được đo trên hình cộng hưởng từ sọ não tại bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM từ tháng 07/2023 đến tháng 03/2025. Kết quả: Giá trị trung bình góc dây thần kinh sinh ba ở bên đau (136,86 ± 11,21°) nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không đau (146,04° ± 10,26°, p < 0,05). Chiều dài trung bình dây thần kinh sinh ba ở bên đau (8,68 ± 1,42 mm) ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không đau (9,79 ± 1,54 mm, p < 0,05). Diện tích trung bình dây thần kinh sinh ba ở bên đau (0,32 ± 0,08 cm²) nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không đau (0,35 ± 0,08 cm², p < 0,05). Giá trị trung bình góc giữa dây thần kinh sinh ba và cầu não ở bên đau (32,63 ± 8,44o) nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không có triệu chứng (37,36 ± 8,40o, p < 0,05). Giá trị trung bình góc xương đá ở bên đau (84,46° ± 12,05°) nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không đau (93,86° ± 13,07°, p < 0,05). Diện tích trung bình bể góc cầu tiểu não ở bên đau (1,89 ± 0,50 cm2) nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không đau (2,15 ± 0,54 cm2, p < 0,05). Kết luận: Ở bệnh nhân đau thần kinh sinh ba không do xung đột thần kinh mạch máu, góc dây thần kinh sinh ba, chiều dài dây thần kinh sinh ba, diện tích dây thần kinh sinh ba, góc giữa dây thần kinh sinh ba và cầu não, góc xương đá, diện tích bể góc cầu tiểu não ở bên đau nhỏ hơn bên không đau, điều này góp phần giải thích cơ chế tiềm ẩn của đau thần kinh sinh ba, hỗ trợ trong chẩn đoán và định hướng điều trị ở nhóm bệnh nhân này.
Thông tin thư mục
Từ khóa
Đau thần kinh sinh ba; Xung đột thần kinh mạch máu; Xương đá; Cộng hưởng từ