← Trở về danh mục
HỒ SƠ TÀI LIỆU · #31.211
Chỉ metadata Tài liệu khác VI

Triển khai và đánh giá hiệu quả lâm sàng của theo dõi nồng độ vancomycin dựa trên AUC tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Năm xuất bản2026
Nguồn học thuậtY học Cộng đồng
Định danh#31211
TRÍCH DẪN ĐỀ XUẤT

Võ Nguyễn Mỹ Ngân; Đỗ Trần Khánh Vy; Đặng Ngọc Kim Thanh; Lê Bá Hải; Võ Thị Hà (2026). Triển khai và đánh giá hiệu quả lâm sàng của theo dõi nồng độ vancomycin dựa trên AUC tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Y học Cộng đồng, 67(CD4), 350-355. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/trien-khai-va-danh-gia-hieu-qua-lam-sang-cua-theo-doi-nong-do-vancomycin-dua-tren-auc-tai-khoa-hoi-suc-tich-cuc-chong-doc-benh-vien-nguyen-tri-phuong-4fb7df4fee3c775d1e579b880576a71d-487166.html

01

Tóm tắt

Đánh giá việc triển khai và hiệu quả lâm sàng của theo dõi nồng độ Vancomycin theo AUC ở người bệnh hồi sức tích cực - chống độc, đồng thời đánh giá khả năng dự đoán của mô hình dược động học quần thể (popPK) và phương pháp Bayes. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, thực hiện trên người bệnh trưởng thành tại Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 8/2023 đến tháng 5/2024. AUC24 được ước tính bằng phần mềm PrecisePK® dựa trên mô hình Rodvold. Hiệu quả lâm sàng được đánh giá thông qua tỷ lệ đạt đích AUC24 (400-600 mg.h/L). Khả năng dự đoán của popPK và phương pháp Bayes được xác định thông qua độ lệch tương đối (% rBias) và độ chính xác (rRMSE). Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 91 người bệnh; độ tuổi trung bình cao (65,7 tuổi); độ thanh thải creatinine thấp (trung bình 45,0 mL/phút), với 80,2% người bệnh có độ thanh thải creatinine ≤ 60 mL/phút, trong đó 65,9% người bệnh được dùng liều tải và 63,7% có liều duy trì ban đầu phù hợp. Tỷ lệ đạt đích AUC24 ở lần đo đầu tiên là 36,3% và sau khi hiệu chỉnh liều đạt 69,8%. Trong số người bệnh có độ thanh thải creatinin < 60 mL/phút, 67,1% có có AUC24 > 600 mg.h/L. Phương pháp Bayes giúp cải thiện độ chính xác dự báo (rBias -10,6%, rRMSE 18,4%) so với mô hình quần thể (rBias +17,4%, rRMSE 44,3%). Kết luận: Theo dõi nồng độ Vancomycin trong máu theo AUC giúp cải thiện tỷ lệ đạt đích ở người bệnh và có tính khả thi trong thực hành lâm sàng. Hiệu chỉnh liều theo phương pháp Bayes giúp cải thiện tỷ lệ đạt đích và độ chính xác dự đoán, hỗ trợ cá thể hóa điều trị trên đối tượng bệnh nặng.

02

Thông tin thư mục

03

Từ khóa

AUC; Bayes; Hồi sức tích cực - Chống độc; TDM; Vancomycin