Vai trò của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hoại tử ruột non do tắc quai kín
Phạm Vũ Duy Hưng; Nguyễn Chí Phong; Nguyễn Minh Đức (2026). Vai trò của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hoại tử ruột non do tắc quai kín. Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, 5(1), 143-150. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/vai-tro-cua-cat-lop-vi-tinh-trong-chan-doan-hoai-tu-ruot-non-do-tac-quai-kin-0c0e17aa998919c393a7200370594670-484261.html
Tóm tắt
Xác định giá trị các dấu hiệu cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hoại tử ruột non quai kín. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 89 bệnh nhân có tắc ruột non quai kín, có kết quả giải phẫu bệnh và tường trình phẫu thuật, được chụp cắt lớp vi tính bụng chậu có tiêm thuốc tương phản tại bệnh viện Bình Dân từ 01/2020 – 06/2025. Ghi nhận, đo đạc các dấu hiệu của tắc ruột và các dấu hiệu thiếu máu ruột. Kết quả: thoát vị nội là nguyên nhân gây tắc ruột non quai kín thường gặp nhất (31,5%). Nguyên nhân gây hoại tử ruột nhiều nhất là do dây thắt (44,44%). Đường kính trung bình của các quai ruột quai kín giãn là 33 ± 6 mm. Để dự đoán hoại tử ruột, độ nhạy và độ đặc hiệu của các dấu hiệu lần lượt là: thành ruột tăng quang kém sau tiêm thuốc cản quang (80,56% và 86,79%), dày thành ruột quai kín (75% và 66,04%) với độ dày trung bình ở nhóm có hoại tử ruột là 6,85 ± 3,19 mm (p>0,05), phù nề thâm nhiễm mỡ mạc treo (86,11% và 73,58%), dịch ổ bụng (91,67% và 39,62%). Kết luận: Thoát vị nội là nguyên nhân tắc ruột non quai kín nhiều nhất. Đường kính của quai ruột quai kín giãn không liên quan đến tình trạng hoại tử ruột. Các dấu hiệu giúp dự đoán hoại tử ruột là thành ruột tăng quang kém sau tiêm thuốc cản quang, dấu hiệu thành ruột dày, dấu hiệu phù nề thâm nhiễm mỡ mạc treo và dịch ổ bụng.
Thông tin thư mục
Từ khóa
Hoại tử ruột non; Tắc ruột non; Quai kín; Chẩn đoán; Căt lớp vi tính