← Trở về danh mục
HỒ SƠ TÀI LIỆU · #35.701
Chỉ metadata Bài tạp chí VI

Sâu răng, viêm lợi và các thực hành sức khỏe răng miệng ở trẻ 6-12 tuổi mắc rối loạn phổ tự kỷ: tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ

Năm xuất bản2025
Nguồn học thuậtTạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế
Định danh#35701
TRÍCH DẪN ĐỀ XUẤT

Tran Xuan Phu; Nguyen Hong Loi; Tran Kiem Hao; Nguyen Huu Son; Minh Tam Nguyen (2025). Sâu răng, viêm lợi và các thực hành sức khỏe răng miệng ở trẻ 6-12 tuổi mắc rối loạn phổ tự kỷ: tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Huế, 17(2), 46-52. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/sau-rang-viem-loi-va-cac-thuc-hanh-suc-khoe-rang-mieng-o-tre-6-12-tuoi-mac-roi-loan-pho-tu-ky-ty-le-hien-mac-va-cac-yeu-to-nguy-co-4119a5a1b1c56a6f3bc3cf3dbeacbc99-500829.html

01

Tóm tắt

Bối cảnh: Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) là một tình trạng phát triển thần kinh ảnh hưởng đến giao tiếp và hành vi. Tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ của các bệnh răng miệng ở trẻ em Việt Nam mắc ASD vẫn chưa rõ ràng. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan đến sâu răng, viêm lợi và các thực hành chăm sóc răng miệng ở trẻ em 6-12 tuổi mắc ASD mức độ nhẹ đến trung bình. Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện trên 218 học sinh mắc ASD, được chẩn đoán theo DSM-5, tại Huế, Việt Nam. Sức khỏe răng miệng được đánh giá bằng chỉ số sâu răng (DMFT), chỉ số viêm lợi (GI), chỉ số cao răng (CI) và chỉ số mảng bám (PI). Một bảng câu hỏi được thiết kế sẵn đã đánh giá các thực hành chăm sóc răng miệng của trẻ thông qua phỏng vấn cha mẹ/người chăm sóc. Hồi quy logistic đã xác định các yếu tố nguy cơ gây sâu răng và viêm lợi. Kết quả: Tỷ lệ sâu răng là 80,3%, trong đó 70,2% ở răng vĩnh viễn và 77,1% ở răng sữa. Giá trị trung bình (độ lệch chuẩn) của dmft và DMFT lần lượt là 6,1 (4,3) và 3,1 (3,2). Viêm lợi có ở 79,4% số người tham gia, với 62,9% được phân loại là nhẹ và 16,5% là nặng. Trẻ em bị viêm lợi và thực hành chăm sóc răng miệng kém, bao gồm không dùng chỉ nha khoa, không súc miệng bằng fluoride ở trường, thường xuyên tiêu thụ thực phẩm có đường, thói quen nghiến thức ăn, tự đánh răng, có khả năng mắc sâu răng cao hơn đáng kể. Nam giới có mảng bám và viêm lợi, kết hợp với thực hành chăm sóc răng miệng kém (không dùng chỉ nha khoa, thường xuyên tiêu thụ thực phẩm có đường, có thói quen nghiến thức ăn và tự đánh răng) có khả năng mắc viêm lợi cao hơn đáng kể. Kết luận: Tỷ lệ sâu răng và viêm lợi cao trong quần thể nghiên cứu. Các yếu tố nguy cơ bao gồm viêm lợi hiện tại và thực hành chăm sóc răng miệng không đầy đủ

02

Thông tin thư mục

03

Từ khóa

Rối loạn phổ tự kỷ; Bệnh răng miệng; Sâu răng; Viêm lợi; Chăm sóc răng miệng