Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thể bệnh y học cổ truyền ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng và bệnh loét dạ dày tá tràng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa
Le Quoc Anh; Nguyen Ngoc Le (2025). Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thể bệnh y học cổ truyền ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng và bệnh loét dạ dày tá tràng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa. Tạp chí Y học và Dược học Huế, 15(2), 44-50. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/nghien-cuu-ve-moi-quan-he-giua-cac-the-benh-y-hoc-co-truyen-o-benh-nhan-loet-da-day-ta-trang-va-benh-loet-da-day-ta-trang-co-bien-chung-xuat-huyet-tie-83846f9128c5b21fa891e58ac291e6ec-500715.html
Tóm tắt
Bối cảnh: Bệnh loét dạ dày tá tràng khá phổ biến trong cộng đồng, dễ tái phát và liên quan đến nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm xuất huyết tiêu hóa. Theo y học cổ truyền, bệnh loét dạ dày tá tràng thuộc phạm trù “vị quản thống”. Để hỗ trợ các thầy thuốc trong việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả bệnh này, đồng thời giảm nguy cơ xuất huyết tiêu hóa, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này. Mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm của hội chứng và thể bệnh y học cổ truyền ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng và bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa. Ngoài ra, tìm hiểu mối quan hệ giữa hội chứng y học cổ truyền và một số yếu tố ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng và bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Vật liệu và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 105 bệnh nhân được chẩn đoán loét dạ dày tá tràng tại Khoa Nội tổng hợp – Nội tiết – Cơ xương khớp và Trung tâm Tiêu hóa – Nội soi tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Kết quả: Tuổi trung bình là 58,05 ± 15,62 tuổi, với tỷ lệ bệnh nhân trên 60 tuổi cao nhất. Bệnh nhân loét tá tràng chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hai nhóm bệnh nhân với tỷ lệ 52,7% và 52,0%. Đặc điểm lâm sàng theo y học cổ truyền: Thực 79,1%, Hư 20,9%; hội chứng khí trệ chiếm 31,4%, hỏa uất 27,6%, huyết ứ 22,9%, và tỳ vị hư hàn 18,1%. Bệnh nhân khí trệ, hỏa uất và huyết ứ có thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng, trong khi bệnh nhân tỳ vị hư hàn có thời gian mắc bệnh trên 12 tháng, cao hơn các hội chứng khác (p < 0,05). Kết luận: Loét tá tràng là loại thường gặp nhất. Hầu hết bệnh nhân có hội chứng huyết ứ được phân loại là Forrest IIa hoặc IIb; có mối quan hệ giữa đặc điểm hội chứng y học cổ truyền ở nhóm bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có biến chứng xuất huyết tiêu hóa và phân loại Forrest (p < 0,05)
Thông tin thư mục
Từ khóa
Loét dạ dày tá tràng; Xuất huyết tiêu hóa; Y học cổ truyền; Hội chứng; Thể bệnh