← Trở về danh mục
HỒ SƠ TÀI LIỆU · #36.043
Chỉ metadata Tài liệu khác VI

Đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh vảy nến bằng secukinumab tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ năm 2024

Năm xuất bản2025
Nguồn học thuậtTạp chí Y dược học Cần Thơ
Định danh#36043
TRÍCH DẪN ĐỀ XUẤT

Nguyễn Thị Lệ Quyên; Huỳnh Như; Nguyễn Trung Hậu; Nguyễn Hoàng Em; Nguyễn Trần Anh Tuấn (2025). Đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh vảy nến bằng secukinumab tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ năm 2024. Tạp chí Y dược học Cần Thơ, - 2345-1210; Ký hiệu kho: TTKHCNQG, CVv 482(91), 53-60. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/dac-diem-lam-sang-cac-yeu-to-lien-quan-va-ket-qua-dieu-tri-benh-vay-nen-bang-secukinumab-tai-benh-vien-da-lieu-thanh-pho-can-tho-nam-2024-77d3a3b72c7be60d3000d8cbaecc3f34-504977.html

01

Tóm tắt

Vảy nến là bệnh lý hệ thống của da và khớp, diễn tiến mạn tính, tiến triển thất thường và hay tái phát. Hình thái lâm sàng của bệnh đa dạng, bệnh sinh của vảy nến chưa sáng tỏ, do đó điều trị còn nhiều khó khăn. Với sự phát triển của các thuốc sinh học, trong đó có secukinumab đã mang lại hiệu quả điều trị tích cực. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh nhân vảy nến bằng secukinumab tại Bệnh viện Da liễu thành phố Cần Thơ năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân trưởng thành mắc vảy nến thông thường, mức độ trung bình - nặng. Bệnh nhân được điều trị bằng secukinumab tiêm dưới da và đánh giá kết quả điều trị theo PASI, DLQI và BSA sau 4, 8, 12 tuần. Kết quả: Nhóm tuổi từ 40-49 chiếm ưu thế (40,0%), đa số bệnh nhân là nam giới (70,0%). Triệu chứng ngứa gặp ở tất cả bệnh nhân (100%). Đa số bệnh nhân mắc vảy nến mức độ vừa theo PASI (93,3%), mức độ nặng theo BSA (76,7%). Phần lớn chất lượng cuộc sống lúc vào viện bị ảnh hưởng mức độ vừa (70,0%). Stress tâm lý chiếm tỉ lệ cao nhất làm khởi phát bệnh hoặc làm bệnh nặng hơn (56,7%). Sau 12 tuần, tỉ lệ PASI-75 tăng từ 50% ở tuần 4 lên 100% ở tuần 12, có 66,7% bệnh nhân có kết quả đạt mục tiêu điều trị theo DLQI, kết quả điều trị theo BSA mức độ nhẹ chiếm 83,3%. Tác dụng phụ thường gặp nhất là mệt mỏi (13,3%). Kết luận: Triệu chứng ngứa gặp ở tất cả bệnh nhân. Độ nặng của bệnh theo PASI mức độ vừa chiếm ưu thế, theo BSA mức độ nặng cao nhất. Stress tâm lý thường khởi phát hoặc làm bệnh nặng hơn. Secukinumab có kết quả rất tốt đối với bệnh nhân vảy nến, ít tác dụng không mong muốn.

02

Thông tin thư mục

03

Từ khóa

Vảy nến; Secukinumab; Thuốc sinh học; Lâm sàng; Điều trị