← Trở về danh mục
HỒ SƠ TÀI LIỆU · #36.334
Chỉ metadata Tài liệu khác VI

Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Năm xuất bản2025
Nguồn học thuậtTạp chí Nghiên cứu y học (Đại học Y Hà Nội)
Định danh#36334
TRÍCH DẪN ĐỀ XUẤT

Mai Hải Yến; Nguyễn Thị Thúy Hồng (2025). Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp chí Nghiên cứu y học (Đại học Y Hà Nội), 197(12), 712-720. https://sti.vista.gov.vn/publication/view/thuc-trang-thieu-vi-chat-dinh-duong-o-tre-thua-can-beo-phi-don-thuan-tai-benh-vien-nhi-trung-uong-47b0b7e34eb85bdae52f6f8159dde487-503195.html

01

Tóm tắt

Thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì phản ánh gánh nặng kép dinh dưỡng và nguy cơ gia tăng rối loạn chuyển hóa. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 trẻ, mô tả thực trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả cho thấy: nhóm ≥ 5 tuổi chiếm 77,5%, nam nhiều hơn nữ (59% so với 41%), tỷ lệ trẻ ở nông thôn cao hơn thành thị (59,5% so với 40,5%). Béo phì chiếm ưu thế (77,5%), thừa cân 22,5%. Các biểu hiện lâm sàng và biến chứng chuyển hóa xuất hiện nhiều hơn ở nhóm béo phì, gồm dấu hiệu: gai đen (51,0% so với 37,8%), gan nhiễm mỡ và rối loạn glucose máu lúc đói hoặc HbA1c ≥ 6,5%. Về vi chất, thiếu vitamin D phổ biến nhất (52,0%), tiếp đến là thiếu sắt (32,0%), kẽm (18,5%), canxi ion hóa (14,0%), canxi toàn phần (13,0%), phospho (13,5%) và magie (8,0%). Trẻ béo phì có nồng độ 25(OH)D trung bình thấp hơn nhóm thừa cân (52,22 ± 19,86 so với 57,75 ± 23,97 nmol/L), với nguy cơ thiếu vitamin D cao gấp hơn 4 lần (OR = 4,279; p = 0,001).

02

Thông tin thư mục

03

Từ khóa

Thừa cân; Béo phì; Thiếu hụt vi chất; Thiếu vitamin D; Trẻ em